Showing posts with label dược thảo. Show all posts
Showing posts with label dược thảo. Show all posts

Monday, February 4, 2013

Những loài cây cỏ mang tên rắn (xà)

Năm Quý Tỵ đang đến dần, giới thiệu với các bạn một số loài cây cỏ ở nước ta có mang tên rắn ( xà) để hiểu thêm sự phong phú của hệ thực vật Việt Nam:

Sunday, October 21, 2012

Xóm núi không người mắc bệnh tiểu đường nhờ cỏ dại?



Không hiểu có phải vì tác dụng của hai loài cỏ gọi theo tiếng địa phương là cây cỏ ngọt và cây cỏ đắng mọc trong rừng mà người dân thôn vùng cao Sơn Phú (xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình) bao nhiêu đời nay không có một người nào mắc bệnh đái tháo đường (tiểu đường).

Sunday, October 14, 2012

Vậy là phải cẩn thận khi mua rau má, rau khoai về nấu canh !!!

Tin trên báo kienthuc.net.vn:

 - Sau khi mua được thuốc GA3, chúng tôi đã thử mức độ phát triển của cây rau trên chính những thùng rau của gia đình. Kết quả, thuốc có tác dụng nhưng chủ yếu trên rau đang trồng, còn rau đã hái bị héo khô nhanh hơn.

TIN LIÊN QUAN


......vào sáng thứ 3 ngày 9/10, chúng tôi đã cảm nhận sự khác biệt hoàn toàn giữa cây được phun thuốc và cây không phun thuốc. Cụ thể, cây rau mồng tơi dù lá không lớn hơn nhưng nhiều ngọn non vươn dài hơn. Phần vươn dài này chỉ tập trung phần chóp ngọn, số lá có trên ngọn non vẫn giữ nguyên. Theo ghi nhận, mức vươn dài của mỗi ngọn khoảng 5cm.

Đặc biệt, thùng trồng rau má có sự khác biệt rõ ràng. Nửa thùng được phun thuốc xanh, non và vươn cao nổi trội so với phần không phun thuốc mặc dù bề rộng của lá vẫn giữ nguyên. Những nhánh ở phần không phun trước đây được xem là cao nhất trong thùng thì nay đều thua phần được phun thuốc.

Qua thử nghiệm ngẫu nhiên của phóng viên có thể thấy, thuốc không có tác dụng đối với rau đã hái như lời đồn là có thể dài hơn từ 10 – 20cm sau một đêm. Thậm chí, thuốc còn làm rau héo khô nhanh hơn bình thường. Đối với cây rau đang trồng, thuốc chỉ có tác dụng ít nhất từ 2 - 3 ngày trở lên.
Thuốc không có tác dụng nhiều lên lá mà chủ yếu phát huy trên ngọn non, còn phần thân tác dụng chủ yếu ở cây dạng ống như rau má. Chiều dài ghi nhận được cũng dao động không quá 10cm.

Rau được phun sau 5 ngày.
Rau được phun sau 5 ngày.
Khi pha, thuốc hoàn toàn hòa tan, không có đóng cặn hay đổi màu. Sau khi phun thuốc lên cây cũng không có biểu hiện bề mặt như có đổi màu, lắng đọng cặn trên bề mặt lá và thân...
Hiền Dung

Sunday, September 9, 2012

10 ngày chữa sạch bệnh chai chân


Theo bạn Tuy Phong trên báo VNExpress, chỉ cần 10 ngày để chữa bênh chai chân bằng cách thức sau:
Mỗi tối, trước khi đi ngủ chuẩn bị hành hương giã nát. Rửa chân sạch và lau khô. Sau đó đắp hành hương vào vết chai dùng vải và băng cố định lại. Sau 10 ngày vết chai sẽ mất.
Một bài thuốc thật rẽ tiền và dễ thực hiện. 
Mình cũng có 1 điểm chai ở gan bàn chân, sẽ thử xem sao. Bạn nào có bị chai cũng thử làm xem và nhớ báo kết quả nhé.

Saturday, September 8, 2012

CÔNG DỤNG CỦA BÍ ĐAO


CÂY CHÙM NGÂY

Tiến sĩ Dược khoa Trần Việt Hưng
Chùm ngây là một cây khá đặc biệt, tuy không thuộc họ Đậu nhưng lại cho quả có hình dáng tương tự như những cây trong họ đậu. Chùm ngây vừa là một cây thực phẩm đồng thời cũng là một nguồn dược liệu khá đặc biệt. Cây rât hữu dụng cho các quốc gia nghèo.Cây tuy có nguồn gốc tại Ấn độ nhưng đã được trồng tại nhiều quốc gia vùng nhiệt đới. Tại Việt Nam cây được trồng tại các tỉnh phía Nam từ Đà Nẵng, Nha Trang, Phan Thiết vào đến Kiên Giang và cả tại đảo Phú quốc.

Tên Khoa học và các tên khác :

Moringa oleifera hay M. pterygosperma thuộc họ Moringaceae
(Moringa, có lẽ do từ tên Mã lai của cây : murinna ; oleifera = có chứa dầu. Tên Anh ngữ drumstick bean do ở hình dạng của hạt giống như dùi trống)
- Các tên khác : Horseradish tree, Behen, Ben Nut Tree, Drumstick Tree, Indian Horseradish. Noix de Bahen (Pháp)

Đặc tính thực vật :

Cây thuộc loại đại mộc, có thể mọc cao 5 đến10m. Lá kép (có thể đến 3 lần= triple-pinnate) dài 30-60 cm, hình lông chim, màu xanh mốc; lá chét dài 12-20 mm hình trứng mọc đối có 6-9 đôi. Hoa trắng, có cuống, hình dạng giống hoa đậu, mọc thành chùy ở nách lá, có lông tơ. Quả dạng nang treo, dài 25-30cm, ngang 2 cm, có 3 cạnh, chỗ có hạt hơi gồ lên; dọc theo quả có khía rãnh. Hạt màu đen, tròn có 3 cạnh, lớn cỡ hạt đậu Hòa Lan.
Cây trổ hoa vào các tháng 1-2
Thành phần hóa học :

Rễ chứa :
Glucosinolates : như
- 4-(alpha-L-rhamnosyloxy)benzyl glucosinolate (chừng 1%) sau khi chịu tác động của myrosinase, sẽ cho 4-(alpha-L-rhamnosyloxy)benzyl isothiocyanate
- Glucotropaeolin (chừng 0.05%) sẽ cho benzylisothiocyanate.
Hạt chứa :

Glucosinolates ( như trong rễ) : có thể lên đến 9% sau khi hạt đã được khử chất béo.
Các acid loại phenol carboxylic như 1-beta-D-glucosyl-2,6-dimethyl benzoate.
Dầu béo (20-50%) : phần chính gồm các acid béo như oleic acid (60- 70%), palmitic acid (3-12%), stearic acid (3-12%) và các acid béo khác như behenic acid, eicosanoic và lignoceric acid..
Lá chứa :

Các hợp chất loại flanonoids và phenolic như kaempferol 3-O-alpha-rhamnoside, kaempferol, syringic acid, gallic acid, rutin, quercetin 3-O-beta-glucoside. Các flavonol glycosides được xác định đều thuộc nhóm kaempferide nối kết với các rhamnoside hay glucoside. (Natu ral Product Research Số 21-2007)
Thành phần dinh dưỡng :

Lá : 100 gram phần đọt lá ăn được chứa :
                                                          Lá tươi                      Lá nấu chín
- Calories                                                 64                             60

- Chất đạm                                               9.40 g                       5.27 g
- Chất béo                                                1.40 g                       0.93 g
- Chất sơ                                                  1.50 g                      1.72 g
- Sắt                                                         4.00 mg                   2.32 mg
- Magnesium                                            147 mg                    151 mg
- Phosphorus                                           112 mg                     67 mg
- Potassium                                             337 mg                    344 mg
- Sodium                                                     9 mg                        9 mg
- Beta Carotene (A)                                  7564 IU                   7013 IU
- Thiamine (B1)                                        0.257 mg                 0.222 mg
- Riboflavine (B2)                                     0.660 mg                 0.509 mg
- Niacin (B3)                                             2.220 mg                 1.995 mg
- Pyridoxine (B6)                                      1.200 mg                    n/a
- Ascorbic Acid ờ                                     51.7 mg                    31.0 mg
Quả (Nang có chứa hạt) : 100 gram phần ăn được chứa:
                                        Nang tươi         Nang khô 

- Calories                                                   37                               36 
- Chất đạm                                                  2.10 g                          2.09 g
 - Chất béo                                                  0.20 g                          0.19 g 
- Chất xơ                                                     1.30 g                          1.84 g 
- Calcium                                                   30 mg                         20 mg 
- Sắt                                                           0.36 mg                       0.45 mg 
- Magnesium                                               45 mg                        42 mg 
- Phosphorus                                              50 mg                         49 mg 
- Potassium                                               461 mg                       457 mg

- Sodium                                                    42 mg                          43 mg
- Beta Carotene (A)                                   74 IU                           70 IU
- Thiamine (B1)                                           0.053 mg                    0.046 mg
- Riboflavine (B2)                                       0.074 mg                   0.068 mg
- Niacin (B3)                                              0.620 mg                    0.590 mg
- Pyridoxine (B6)                                         0.120 mg                      n/a
Những nghiên cứu khoa học về Chùm ngây :

Chùm ngây được xem là một cây đa dụng, rất hữu ích tại những quốc gia nghèo thuộc 'Thế giới thứ Ba' nên đã được nghiên cứu khá nhiều về các hoạt tính dược dụng, giá trị dinh dưỡng và công nghiệp. Đa số các nghiên cứu được thực hiện tại Ấn độ, Philippines, và Phi châu..Tính cách đa dụng của Moringa oleifera :
Nghiên cứu rộng rãi nhất về giá trị của Moringa oleifera được thực hiện tại ĐH Nông Nghiệp Falsalabad, Pakistan :
"Moringa oleifera Lam (Moringaceae) là một cây có giá trị kinh tế cao, cây phân bố tại nhiều quốc gia nhiệt đớn và cận nhiệt đới. Cây vừa là một nguồn dược liệu và là một nguồn thực phẩm rất tốt. Các bộ phận của cây chứa nhiều khoáng chất quan trọng, và là một nguồn cung cấp chất đạm, vitamins, beta-carotene, acid amin và nhiều hợp chất phenolics.. Cây Moringa cung cấp một hỗn hợp pha trộn nhiều hợp chất khó gặp tại các cây khác như zeatin, quercetin, beta-sitosterol, caffeoylquinic acid và kaempferol. Ngoài khả năng thanh lọc nước và giá trị dinh dưỡng cao, M.oleifera còn là một dược thảo quan trọng trong việc điều trị một số bệnh : Các bộ phận của cây như lá, rễ, hạt, vỏ cây, quả và hoa.. có những hoạt tính như kích thích hoạt động của tim và hệ tuần hoàn, hoạt tính chống u-bướu, hạ nhiệt, chống kinh phong, chống sưng viêm, trị ung loét, chống co giật, lợi tiểu, hạ huyết áp, hạ cholesterol, chống oxy-hóa, trị tiểu đường, bảo vệ gan, kháng sinh và chống nấm.. Cây đã được dùng để trị nhiều bệnh trong Y-học dân gian tại nhiều nước trong vùng Nam Á" (Phytotherapy Research Số 21-2007)
Hoạt tính kháng nấm gây bệnh :
Nghiên cứu tại Institute of Bioagricultural Sciences, Academia Sinica, Đài Bắc (Taiwan) ghi nhận dịch chiết từ lá và hạt Chùm ngây bằng ethanol có các hoạt tính diệt được nấm gây bệnh loại Trichophyton rubrum, Trichophyton mentagrophytes, Epidermophyton floccosum và Microsporum canis. Các phân tích hóa học đã tìm được trong dầu trích từ lá Chùm ngây đến 44 hóa chất. (Bioresource Technology Số 98-2007)
Tác dụng của quả Chùm ngây trên chlolesterol và lipid trong máu :
Nghiên cứu tại ĐH Baroda, Kalabhavan, Gujarat (Ấn Độ) về hoạt tính trên các thông số lipid của quả Chùm ngây, thử trên thỏ, ghi nhận : Thỏ cho ăn Chùm ngây (200mg/kg mỗi ngày) hay uống lovastatin (6mg/kg/ ngày) trộn trong một hổn hợp thực phẩm có tính cách tạo cholestero cao, thử nghiệm kéo dài 120 ngày. Kết quả cho thấy Chùm ngây và Lovastatin có tác dụng gây hạ cholesterol, phospholipid, triglyceride, VLDL, LDL hạ tỷ số cholesterol/ phospholipid trong máu..so với thỏ trong nhóm đối chứng. Khi cho thỏ bình thường dùng Chùm ngây hay Lovastatin : mức HDL lại giảm hạ nhưng nếu thỏ bị cao cholesterol thì mức HDL lại gia tăng. Riêng Chùm ngây còn có thêm tác dụng làm tăng sự thải loại cholesterol qua phân (Journal of Ethnopharmacology Số 86-2003).
Các hoạt tính Chống co-giật, chống sưng và gây lợi tiểu :
Dịch trích bằng nước nóng của hoa, lá, rễ, hạt..vỏ thân Chùm ngây đã được nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên cứu Kỹ Thuật (CEMAT) tại Guatamala City về các hoạt tính dược học, thử nơi chuột. Hoạt tính chống co giật được chứng minh bằng thử nghiệm trên ruột đã cô lập, hoạt tính chống sưng thử trên chân chuột bị gây phù bằng carrageenan vả tác dụng lợi tiểu bằng lượng nước tiểu thu được khi chuột được nuôi nhốt trong lồng : Nước trích từ hạt cho thấy tác động ức chế khá rõ sự co giật gây ra bởi acetylcholine ở liều ED50= 65.6 mg/ml môi trường ; tác động ức chế phù gây ra do carrageenan được định ở 1000mg/kg; và hoạt tính lợi tiểu cũng ở 1000 mg/kg. Nước trích từ Rễ cũng cho một số kết quả (Journal of Ethnopharmacology Số 36-1992).
Các chất gây đột biến genes từ hạt Chùm ngây rang chín:
Một số các hợp chất các chất gây đột biến genes đã được tìm thấy trong hạt chùm ngây rang chín : Các chất quan trọng nhất được xác định là 4(alpha-L-rhamnosyloxy)phenylacetonitrile; 4-hydroxyphenylacetonitri le và 4-hydroxyphenyl-acetamide. (Mutation Research Số 224-1989)
Khả năng ngừa thai của Rễ Chùm ngây :
Nghiên cứu tại ĐH Jiwaji, Gwalior (Ấn độ) về các hoạt tính estrogenic, kháng estrogenic, ngừa thai của nước chiết từ Rễ Chùm ngây ghi nhận chuột đã bị cắt buồng trứng, cho uống nước chiết, có sự gia tăng trọng lượng của tử cung. Hoạt tính estrogenic được chứng minh bằng sự kích thích hoạt động mô tế bào tử cung. Khi cho chuột uống nước chiết này chung với estradiol dipropionate (EDP) thì có sự tiếp nối tụt giảm trọng lượng của tử cung so sánh với sự gia tăng trọng lượng khi chĩ cho chuột uống riêng EDP. Trong thử nghiệm 'deciduoma' liều cao nhất 600mg/kg có tác động gây rối loạn sự tạo deciduoma nơi 50 % số chuột thử . Tác dụng ngừa thai của Rễ Chùm ngây được cho là do nhiều yếu tố phối hợp (Journal of Ethnopharmacology Số 22-1988).
Hoạt tính kháng sinh của Hạt Chùm ngây :
4(alpha-L-Rhamnosyloxy)benzyl isothiocyanate được xác định là có hoạt tính kháng sinh mạnh nhất trong các hoạt chất trích từ hạt Chùm ngây (trong hạt Chùm ngây còn có benzyl isothiocyanate). Hợp chất trên ức chế sự tăng trưởng của nhiều vi khuẩn và nấm gây bệnh. Nồng độ tối thiểu để ức chế Bacillus subtilis là 56 micromol/l và để ức chế Mycobacterium phlei là 40 micromol/l (Planta Medica Số 42-1981)Hoạt tính cũa Rễ Chùm ngây trên Sạn thận loại Oxalate :
Thử nghiệm tại ĐH Dược K.L.E.S, Nehru Nagar, Karnakata (Ấn độ) trên chuột bị gây sạn thận oxalate bằng ethylen glycol ghi nhận dịch chiết bằng nước và alcohol rễ và lõi gỗ Chùm ngây làm giảm rõ rệt nồng độ oxalate trong nước tiểu bằng cách can thiệp vào sự tổng hợp oxalate trong cơ thể. Sự kết đọng tạo sạn trong thận cũng giảm rất rõ khi cho chuột dùng dịch chiết này như một biện pháp phòng ngừa bệnh sạn thận (Journal of Ethnopharmacology Số 105-2006).
Dùng hạt Chùm ngây để lọc nước :
Hạt Chùm ngây có chứa một số hợp chất 'đa điện giải' (polyelectrolytes) tự nhiên có thể dùng làm chất kết tủa để làm trong nước. Kết quả thử nghiệm lọc nước : Nước đục (độ đục 15-25 NTU, chứa các vi khuẩn tạp 280-500 cfu ml(-1), khuẩn coli từ phân 280-500 MPN 100 ml(-1), dùng hạt Chùm ngây làm chất tạo trầm lắng và kết tụ, đưa đến kết quả rất tốt (độ đục còn 0.3-1.5 NTU; vi khuẩn tạp còn 5-20 cfu; và khuẩn coli còn 5-10 MPN..) Phương pháp lọc này rất hữu dụng tại các vùng nông thôn của các nước nghèo..và được áp dụng khá rộng rãi tại Ấn độ (Journal of Water and Health Số 3-2005)
Chùm ngây trong dược học dân gian :
Ấn độ : Chùm ngây được gọi là sainjna, mungna (Hindi, Asam, Bengal..); Phạn ngữ : Shobhanjana.
Chùm ngây là một trong những cây thuốc 'dân gian' rất thông dụng tại Ấn độ. Vỏ thân được dùng trị nóng sốt, đau bao tử, đau bụng khi có kinh, sâu răng, làm thuốc thoa trị hói tóc; trị đau trong cổ họng (dùng chung với hoa của cây nghệ, hạt tiêu đen, rễ củ Dioscorea oppositifolia); trị kinh phong (dùng chung với thuốc phiện) ; trị đau quanh cổ (thoa chung với căn hành của Melothria heterophylla, Cocci nia cordifolia, hạt mướp (Luffa) và hạt Lagenaria vulgaris); trị tiểu ra máu; trị thổ tả (dùng chung với vỏ thân Calotropis gigantea, Tiêu đen, và Chìa vôi. Hoa dùng làm thuốc bổ, lợi tiểu. Quả giã kỹ với gừng và lá Justicia gendarussa để làm thuốc đắp trị gẫy xương. Lá trị ốm còi, gây nôn và đau bụng khi có kinh. Hạt: dầu từ hạt để trị phong thấp.Pakistan : Cây được gọi là Sajana, Sigru. Cũng như tại Ấn, Chùm ngây được dùng rất nhiều để làm các phương thuốc trị bệnh trong dân gian. Ngoài các cách sử dụng như tại Ấn độ, các thành phần của cây còn được dùng như : Lá giả nát đắp lên vết thương, trị sưng và nhọt, đắp và bọng dịch hoàn để trị sưng và sa; trộn với mật ong đắp lên mắt để trị mắt sưng đỏ.. Vỏ thân dùng để phá thai bằng cách đüa vào tử cung để gây giãn nở. Vỏ rễ dùng sắc lấy nước trị đau răng, đau tai..Rễ tươi của cây non dùng trị nóng sốt , phong thấp, gout, sưng gan và lá lách..Nhựa từ chồi non dùng chung với sữa trị nhức đầu, sưng răng.. Trung Mỹ : Hạt Chùm ngây được dùng trị táo bón, mụn cóc và giun sán
Saudi Arabia : Hạt được dùng trị đau bụng, ăn không tiêu, nóng sốt, sưng tấy ngoài da, tiểu đường và đau thắt ngang hông.Việt Nam : Tại Việt Nam, Rễ Chùm ngây được cho là có tính kích thích, giúp lưu thông máu huyết, làm dễ tiêu hóa, tác dụng trên hệ thần kinh, làm dịu đau. Hoa có tính kích dục. Hạt làm giảm đau. Nhựa (gomme) từ thân có tác dụng làm dịu đau.
Liều lượng và các phản ứng phụ cần lưu ý :

Hiện nay chưa có những báo cáo về những nguy hại đối với sức khoẻ trong việc sử dụng Hạt và Rễ Chùm ngây theo các liều lượng trị liệu. Tuy nhiên dùng liều quá cao có thể gây ra buồn nôn, chóng mặt và ói mửa.
Liều cho uống : 5gram/ kg trọng lượng cơ thể, thử trên chuột , gây phản ứng keratin hóa quá mức tế bào bao tử và sơ hóa tế bào gan.
Liều chích qua màng phúc toan 22 đến 50 mg/ kg trọng lượng cơ thể gây tử vong nơi chuột thử nghiệm.
Không nên dùng Rễ Chùm ngây nơi phụ nữ có thai, vì có khả năng gây trụy thai.

Tài liệu tham khảo :

Medicinal Plants of India (S.K. Jain & Robert DeFilipps)
PDR for Herbal Medicines (3rd Edition)
Medicinal Plants of India and Pakistan ( J.F. Dastur)
Từ điển Cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi)
Handbook of Medicinal Herbs (J. Duke)Disclaimer: Đây là bài tham khảo, không dùng để tự trị liệu.

TAGS: Drumstick, Moreinga Oleifera, M. Pterigosperma, Glucosinolates, Flanonoids, Tran Viet Hung
Tiến sĩ Dược khoa Trần Việt Hưng

Thursday, September 6, 2012

VIỆT QUẤT: LOẠI QUẢ CHỐNG BỊNH GIÀ


Quả việt quất ( blueberry) có nhiều loại .
Vaccinium angustifolianum


Trong quả việt quất có vitamin C,  những chất chống oxy hóa và một số chất khác mà Y học chưa nghiên cứu hết. 

Vaccinium corymbosum
Quả việt quất được chế biến dưới dạng nước uống hoặc pha trộn với những loại nước khác hoặc đưa vào một vài loại bánh, mứt. 


 Blueberry cũng được trồng trên phạm vi thương mại tại một vài nơi như New Jersey, Pennsylvania và một vài quốc gia tại Nam Bán Cầu như Chile, Úc, Tân Tây Lan để xuất khẩu sang Mỹ vào mùa Đông vì thời tiết giữa hai bán cầu trái ngược.
Vaccinium uliginosum
Wild vaccinium
Theo các chuyên gia thì những loại việt quất, mọc hoang tại New England, có nhiều chất bổ dưỡng hơn, ngon hơn là những loại việt quất được trồng tại các nông trại tại New Jersey.
Vaccinium angustifolium
 
Nước ép quả việt quất có rất nhiều công dụng.
- Những người sau khi uống nước việt quất trong vòng 8 tuần lễ thì huyết áp giảm 8 điểm từ 130 xuống còn 122.
- Trong quả việt quất, ngoài sinh tố C, còn có nhiều chất polyphenol chống lại sự lão hóa (senescence) của cơ thể và giúp chống lại một số bệnh nhiễm trùng.
Cuộc khảo cứu đã được thực hiện trên 45 người có chứng mập phì thường dễ bị chứng cao huyết áp, tiểu đường, cholesterol lên cao, bệnh tim mạch. Những người này được uống hai chén nước việt quất (blueberry) mỗi ngày và được đối chứng với những người uống một loại nước tương tự là "thuốc vờ" (placebo) để kiểm chứng bằng thống kê.
Vaccinium myrtillus
Kết quả cho thấy là những chất polyphenol trong trái blueberry còn giúp chống lại bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch, giảm cholesterol và nhất là hiện tượng lão hóa của các tế bào trong cơ thể (cell damages by aging). 
Cũng theo nghiên cứu, những người thường xuyên uống nước việt quất sẽ tránh được hiện tượng lão hóa của cơ thể và những chứng bệnh mãn tính thường đi kèm với hiện tượng này thường được gọi là “bệnh già“!
Chúng ta đã biết từ lâu là cần phải ăn nhiều rau tươi và trái cây. Vì thế nên ăn trái hay uống nước ép quả việt quất  mỗi ngày. 
Tốt nhất là nên ăn những loại việt quất (blueberry) tươi và càng có mầu xanh đậm thì càng tốt vì có nhiều polyphenol.
Tham khảo
Bác sĩ Trường Xuân, MD.

http://www.yduocngaynay.com/8_8WebradioYDNN_

Wednesday, September 5, 2012

CÁC LOÀI CÂY CỎ TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Tham khảo: http://yduocngaynay.com/8-8TK_TrXuan_CayCoTriTieuDuong.htm

Nguyên nhân bệnh tiểu đường:

Bệnh tiểu đường tại Á châu được cho là do đang có sự thay đổi trong đời sống và lổi ẩm thực tại những quốc gia thuộc châu lục này. Người dân Á châu chuyển từ lối sống trong xã hội nông nghiệp (agricultural society), có từ cả ngàn năm về trước và cơ thể họ đã có những gen di truyền gọi là thrifty genes, giúp họ có khả năng dự trữ và tiết kiệm những thực phẩm tiêu thụ, sang lối sống công nghiệp hoặc hậu công nghiệp (post industrial era), là đời sống dư thừa, nhàn hạ với mức dinh dưỡng cao dẫn đến hậu quả tất yếu là tình trạng mập phì và gia tăng người bị bệnh tiểu đường lên tới mức cao. 

Phòng tránh tai họa của bệnh tiểu đường..
Bệnh tiểu đường ngoài nguyên nhân di truyền qua ảnh hưởng của những thrifty genes,  còn có nguyên nhân do môi trường đem lại và điều này có thể tránh được bằng cách áp dụng những phương pháp dinh dưỡng thích hợp và một nếp sống hoạt động thích nghi với môi trường mới.

Nhiều kế hoạch chống lại bệnh tiểu đường đã được nghiên cứu và tổ chức thực hiện. Một trong những  kết quả ghi nhận được là trở về với lối ẩm thực cổ truyền trước đây tận dụng những loại ngũ cốc, trái cây, các loại hạt mọc trong thiên nhiên có khả năng giúp chống lại những chứng bệnh do đời sống “văn minh” đem lại như bệnh tiểu đường và tim mạch.Những loài cây cỏ có tác dụng trị bịnh tiểu đưởng:
1.Hạt quinoa:

Do nền văn minh cổ Inca tìm ra trên cao nguyên Andes (Nam Mỹ) có công dụng chống lại những chứng bệnh tiểu đường. Hiện nay quinoa được nhiều nhà dinh dưỡng Mỹ nghiên cứu.


Tám thực phẩm bảo vệ sức khỏe

 2.Methi seed
Nhiều khảo cứu được thực hiện tại Ấn độ về loại hạt có tên là Methi  giúp chống lại bệnh tiểu đường . Từ lâu, loại hạt này được dùng trong các món ăn Ấn độ trong đó món ca ri là chính. Hạt Methi còn có tên là Fenugreek (trigonella graecum) được trồng tại miền Trung Ấn Độ và Trung Đông, Phi Châu, Mã Lai và cả Trung Quốc với tên là Hu Lu Ba và được dùng như một loại gia vị trong ca ri và nhiều món ăn cổ truyền khác. Hạt Fenugreek còn giúp các sản phụ tăng sữa (galactagogue) và làm giảm cholesterol, triglyceride và đường trong máu. Có nhiều khảo cứu tại Ấn độ và Anh cho thấy là Fenugreek giúp làm giảm đường A1c và giúp cơ thể tiêu thụ đường tốt hơn. Hiện nay Fenugreek được phố biến rộng rãi dưới hình thức bột, viên capsule, trà lá Fenugreek hoặc hạt còn nguyên bán.


Hạt Methi trị bịnh tiểu đường 

  3. Hạt ngò Coriander (Coriandrum sativum )


Cây ngò hay cây mùi có tên khoa học Coriandrum sativum.  Hạt ngò cũng có công hiệu như hạt methi chống lại bệnh tiểu đường và giảm lượng cholesterol. Những hợp chất có trong hạt ngò và hạt Methi có khả năng giúp cơ thể sản xuất thêm insulin giống như các loại thuồc mới trị bệnh tiểu đường. Hai hạt này đều được dùng làm gia vị và có hương vị khác nhau
4.Củ nghệ vàng (Curcuma longa L.)
Cũng là một loài thảo dược hiện đang được nghiên cứu tại nhiều nước trên thế giới. Curcuma có tác dụng với bịnh tiểu đường đồng thời cũng có tác dụng với bịnh Azheimer là một bịnh thường đi kèm theo bịnh tiểu đường.


Nghệ vàng 
5. Cây cỏ ngọt


Cỏ ngọt có nguồn gốc tự nhiên ở vùng Amambay và Iquacu thuộc biên giới Brazil và Paraguay. Ngày nay, nhiều nước trên thế giới đã phát triển việc dùng loại cây này trong đời sống
Cỏ ngọt được biết đến từ năm 1908. Hai nhà khoa học Reseback và Dieterich đã chiết xuất được glucozit từ lá cỏ ngọt. Năm 1931, Bridel và Lavieille mới xác định được glucozit đó chính là steviozit. Steviozit sau khi thủy phân sẽ cho 3 phân tử steviol và isosteviol. Chất steviol ngọt gấp 300 lần đường saccaroza, ít năng lượng, không lên men, không bị phân hủy mà hương vị thơm ngon, có thể dùng để thay thế đường trong chế độ ăn kiêng.


Đặc tính quan trọng của các glucozit này là có thể làm ngọt các loại thức ăn và đồ uống mà không gây độc hại cho người, không đòi hỏi kỹ thuật sản xuất phức tạp, năng suất cao, công nghệ thu hái chế biến đơn giản. Khối lượng thân, lá và chất lượng cỏ ngọt đạt cao nhất ở thời kỳ trước khi nở hoa, nghĩa là nên thu hoạch ở giai đoạn hình thành nụ.
 Tại Việt Nam, từ năm 1988, cỏ ngọt đã được nhập và trồng ở nhiều vùng như Hà Giang, Cao Bằng, Hà Tây, Lâm Đồng...
Cỏ ngọt cũng được dùng như một loại trà dành cho những người bị bệnh tiểu đường, béo phì hoặc cao huyết áp. 
Trong công nghiệp thực phẩm, cỏ ngọt được dùng để pha chế làm tăng độ ngọt mà không làm tăng năng lượng của thực phẩm. 
6. Khổ qua, mướp đắng


Mướp đắng còn có tên gọi khác: Khổ qua, cẩm lệ chi, lương qua, mướp mủ, chua hoa (Mường)...
Bộ phận dùng là quả tươi hay khô, có thể dùng cả hạt và lá để làm thuốc.
Trong quả có chứa glycozit đắng: momordixin, charantin; hỗn hợp các chất thuộc nhóm stigmastadienol; protid, acid amin; lipid và các sắc tố chủ yếu: lycopen; một số vitamin và muối khoáng. Hạt chứa chất béo và chất đắng.
Mướp đắng nhồi thịt.
Theo Đông y mướp đắng vị đắng, lạnh; vào tỳ vị tâm can. Tác dụng thanh giải thử nhiệt, minh mục giải độc. Dùng cho các trường hợp nhiệt bệnh sốt nóng mất nước, hội chứng lỵ, viêm cấp tính đường tiết niệu, sỏi đường tiết niệu, mụn nhọt, viêm kết mạc mắt cấp tính (đau mắt đỏ), bệnh tiểu đường. Dùng 1- 4 quả; nấu, xào, ép nước, pha hãm.
Một số bài thuốc chữa bệnh có mướp đắng:
Nước tắm cho trẻ em nhiều rôm sảy: Mướp đắng 2 - 3 quả. Rửa sạch, bổ làm đôi, nấu với nước, lấy nước tắm cho trẻ. Ngày làm 1 lần.
Chữa ho: Mướp đắng 1 - 2 quả. Rửa sạch, bổ làm đôi, nấu với nước, lấy nước uống trong ngày.
Chữa thấp khớp: Lá mướp đắng 8g, dây đau xương sao 8g, cây xấu hổ 8g, rễ nhàu 8g, cỏ xước 8g, cây vòi voi sao 8g, cối xay 8g, rễ ngũ trảo 5g, dây thần thông 5g, quế chi 4g, gừng tươi 3g. Sắc uống ngày 1 thang.
Nước sắc khổ qua: Khổ qua 1 - 2 quả, tách bỏ ruột, thái lát, sắc lấy nước cho uống. Dùng cho các trường hợp tiểu đường, sốt cao mất nước, miệng khô, họng khát.
Nước chiết khổ qua ướp đường: Khổ qua tươi 1 - 2 quả. Khổ qua rửa sạch, nghiền nát nhuyễn, cho thêm 100g đường trắng trộn khuấy đều để sau 2 giờ đem khuấy nước sôi nguội và lọc lấy nước cho uống 1 lần. Dùng cho chứng nhiệt lỵ.
Khổ qua xào đậu phụ: Khổ qua 150g, đậu phụ 100g. Khổ qua rửa sạch, bỏ ruột thái lát, dùng dầu xào to lửa cho chín tái, cho đậu phụ thái lát và ít muối gia vị, tiếp tục xào to lửa cho chín đều. Cho ăn ngày 1 lần. Dùng thường ngày cho bệnh nhân tiểu đường.
Khổ qua xào thịt nạc: cách làm tương tự như trên, thay đậu phụ bằng thịt lợn nạc. Dùng cho các trường hợp chảy máu cam, tiểu đường, đau mắt đỏ...
Khổ qua xào cà rốt: Khổ qua 60g, cà rốt 60g, thêm hành tiêu gia vị xào với lửa to. Ăn ngày 2 lần. Dùng cho các trường hợp tiêu chảy, đặc biệt là ở trẻ nhỏ với liều bằng nửa của người lớn.
Thịt nạc hầm khổ qua, củ cải: Khổ qua 250g - 500g, thịt lợn nạc 125g - 250g, củ cải 100g - 200g. Khổ qua rửa sạch thái lát, thịt lợn nạc thái miếng, củ cải thái miếng; hầm với nước; khi đã chín thêm gia vị. Cho ăn ngày 1 lần, liên tục 20 ngày. Dùng cho các bệnh nhân viêm họng mạn tính, đau rát họng, ho khan, viêm nề hoặc viêm teo niêm mạc họng.
Khổ qua xào bột tề: Khổ qua 60g, bột củ năn 60g. Khổ qua bỏ ruột thái lát, bột tề (củ năn) bóc vỏ thái lát. Cho dầu vừng hoặc dầu thực vật xào to lửa, thêm gia vị. Cho ăn ngày 1 - 2 lần. Dùng cho các trường hợp viêm loét niêm mạc môi miệng, viêm lưỡi và họng hầu. Ăn và nhai nuốt đều đau, sốt nóng.
Ở miền Nam, tại các thành phố, thị trấn; món canh khổ qua nhồi thịt băm hoặc cá riêu canh chua khổ qua là những món ăn ngon miệng dễ tiêu được mọi người ưa thích.
Kiêng kỵ: Người có tỳ vị hư hàn không nên dùng nhiều.
http://www.giaoduc.edu.vn/news/suc-khoe-720/muop-dang-vi-thuoc-qui-141717.aspx


(Sưu tầm và tổng hợp lại)