Mấy hôm nay Đà Nẵng xôn xao với chuyện cái bằng tại chức. Kẻ ủng hộ, người bất bình. Chuyện chất lượng cái bằng tại chức như thế nào thì có lẽ đến trên 60% cho rằng chất lượng tồi. Vậy thì có điều gì khiến cho nhiều người trăn trở?
Chúng ta hãy thử tìm hiểu những nguyên nhân nào dẫn đến việc quyết định đó?
1. Chất lượng đào tạo của bằng ĐH tại chức?
Đã từ lâu lắm rồi tồn tại câu nói: DỐT CHUYÊN TU, NGU TẠI CHỨC. Thực sự, ban đầu các hệ chuyên tu tại chức này được mở ra để đáp ứng nhu cầu học tập của nhiều người sau thời gian tham gia công tác, bỏ dở công việc học hành, hoặc con em những gia đình "có thành phần cơ bản".
Câu nói trên cũng chỉ là câu nói trong lúc "trà dư tửu hậu", là một tiếng nói xầm xì không chính thức. Cho thấy sự khác biệt giữa một người đào tạo bài bản chính quy với một người bị mất căn bản, có nhiều lổ hổng và vá víu trong một tình trạng khó khăn thiếu thốn.
Chủ trương đào tạo tại chức không có gì là sai và hết sức nhân bản. Tuy nhiên, do tính cách làm việc thiếu nghiêm túc, khoa học và kỷ luật, thường xử lý theo tính xuê xoa tình cảm ( không biết đây có phải do bản chất của nông dân không?), kèm theo đó là tư tưởng công thần, sợ hãi, gian dối...Dẫn đến tình trạng có một số người lẽ ra phải hỏng thì lại được cho qua, các điểm số có tính nhân nhượng và chiếu lệ.
Phải thừa nhận rằng việc xét điều kiện để một người đi học tại chức trước đây rất gắt gao: phải có ý kiến của cơ quan đơn vị công tác về tư cách đạo đức, năng lực. Người đi học ý thức được nhiệm vụ học tập của mình rõ ràng. ...Do đó có thể nói chất lượng của bằng ĐH tại chức hiện tại đã bị giảm sút!
Thực tế cho thấy, có rất nhiều người tuy học tại chức nhưng khả năng tư duy cũng như phong cách học tập tốt hơn nhiều so với những sinh viên trẻ học chính quy. Có lẽ, những người này ngoài năng lực tư duy họ đã có nhiều kinh nghiệm tích lũy về khả năng phân tích, khả năng tổng hợp cũng như phương thức giải quyết vấn đề trong quá trình làm việc.
Có nhiều người do nhu cầu công việc thực sự, chẳng hạn một người tốt nghiệp ĐH xây dựng. Nhưng khi phụ trách về vật liệu xây dựng, do nhu cầu kiến thức họ đã học thêm ĐH tại chức ngành Hóa học.
Trong một thời gian dài, do đời sống kinh tế khó khăn nên nhiều người tuy đã được học hành, có bằng cấp, vẫn phải bỏ để tìm những công việc khác không đòi hỏi nhiều kiến thức, bằng cấp nhưng có thu nhập cao hơn *.
* Nhiều cán bộ giảng dạy ở các trường Đại học bỏ trường đi làm đội trưởng phụ trách các công nhân lao động xuất khẩu. Có trường hợp sau thời gian dài, ở lại nước ngoài chỉ để làm công việc buôn bán các mặt hàng khan hiếm như: buôn bàn là, thau nhôm, ấm điện..từ Liên Xô, hoặc buôn xe gắn máy ở các nghĩa địa xe của Nhật về Việt Nam; ngược lại buôn những mặt hàng khan hiếm tại các nước xã hội chủ nghĩa như quần Jin, áo phông, mỹ phẩm ....từ Lào, Thái Lan qua các cửa khẩu của Việt Nam.
Trong nước, nhiều gia đình không muốn cũng như không có điều kiện cho con tiếp tục học tập, chấp nhận những công việc có thu nhập trước mắt.
Những điều này dẫn đến một sự thiếu hụt nhân lực trong một khỏang thời gian dài. Rất nhiều chính sách hỗ trợ được đưa ra nhằm khuyến khích nhiều người đi học.
Sự khủng hoảng thiếu này kèm theo những điều kiện thu nhập ưu đãi của những người may mắn được học hành, cũng như sau khi nền kinh tế đất nước vượt qua giai đoạn khó khăn, đã hình thành một phong trào thu hút nhiều người trở lại với công việc học tập:
- các cán bộ lãnh đạo trường sở nhưng thiếu chuẩn về bằng cấp.
- nhiều giáo viên, công nhân viên muốn nâng cao trình độ để thay đổi điều kiện và môi trường làm việc.
- nhiều người ham thích học tập nhưng do điều kiện hòan cảnh phải bỏ dở nay quay lại để thỏa mãn nhu cầu yêu thích của mình...
- Nhu cầu Đại học hóa bằng cấp khiến nhiều người rất khó lòng tìm việc với bằng tốt nghiệp TH phổ thông.
- Kinh tế thị trường mở cửa đã dẫn đến việc thương mại hóa giáo dục. Nhiều trường, nhiều cơ sở đứng ra mở các lớp học liên kết cấp bằng tại chức để thu lợi nhuận.
2. Khả năng đáp ứng công việc của những người tốt nghiệp bằng ĐH tại chức thấp?
Điều kiện đáp ứng việc đào tạo các lớp Đại học tại chức, Đại học chuyên tu chỉ có thế là các trường Đại học. Thời gian qua, rất nhiều trường Đại học (với đội ngũ giáo viên đã được đào tạo có bằng cấp) đã ra quân ồ ạt ký kết hợp đồng với nhiều địa phương để đào tạo ĐH tại chức, ĐH chuyên tu và ĐH từ xa.
Ý nghĩa tích cực của nó là giúp cho đội ngũ lao động ở địa phương được nâng cao trình độ năng lực với sự giảm thiểu kinh phí đi lại mà vẫn bảo đảm được công việc đang đảm trách. Công việc này đòi hỏi một sự cố gắng nỗ lực về phía người dạy cũng như người học.
Tuy nhiên có những vấn đề nảy sinh:
- Do tính cách lợi nhuận, nhiều trường đã biến đội ngũ giáo viên của mình thành một lực lượng lao động nhằm trục lợi *.
* Người ký hợp đồng đã trở thành một cai đầu dài, thu lợi từ việc kinh phí biên soạn giáo trình, trả thù lao thấp cho người trực tiếp giảng dạy, việc định giá thù lao chỉ do phía nhà trường tự quyết định mà không có hợp đồng thỏa thuận giữa giáo viên và nhà trường.
Các hợp đồng đào tạo đã đem lại lợi nhuận lớn cho một số cá nhân, trong khi nhà nước bỏ kinh phí đào tạo đội ngũ cũng như cơ sở, trang thiết bị vật chất.
- Có những trường ký kết các hợp đồng một cách ôm đồm dẫn đến khả năng lao động của người trực tiếp giảng dạy bị vắt kiệt. Không bảo đảm tính kế hoạch, thời gian giảng dạy tại các lớp tại chức cũng như chính quy. Lịch giảng dạy tại các lớp chính quy bị xáo trộn, cắt bỏ, thay đổi để đáp ứng lịch giảng dạy tại chức ở các địa phương.
- Nhiều biến tướng trong ký kết hợp đồng hai bên cùng có lợi, một bên chịu tư cách pháp nhân cấp bằng. Một bên tuy điều kiện, trình độ giảng dạy chưa đáp ứng nhưng vẫn tham gia giảng dạy để tăng thu nhập và để giảm chi phí tại địa phương *.
* Tỉ lệ số tiết phân công giảng dạy có thể thay đổi từ 30-70 đến 50-50 tùy theo từng hợp đồng thỏa thuận đôi bên.
Những điều này không những gây ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo tại các lớp tại chức mà ngay chất lượng tại các lớp chính quy cũng ảnh hưởng.
- Do lợi nhuận, số tiết dạy cho các môn ở lớp tại chức theo chương trình thường bị cắt bớt *.
* Đặc biệt ở các lớp đào tạo từ xa thì chương trình bị cắt bỏ rất nhiều: một môn học 60 tiết, giảm lại chỉ còn 10 tiết tính trong hai buổi học. Với lý do, học viên có nhiệm vụ tự học tự nghiên cứu. (Thực tế điều này khó thực hiện được).
- Thường có sự thông cảm ngầm giữa giáo viên và học viên. Giáo viên muốn rút ngắn thời gian vì sự chồng chéo với lịch giảng dạy tại các lớp chính quy. Trong khi đó, học viên tại chức, từ xa phải làm thêm để kiếm tiền trang trải cho những tốn kém từ các lớp học này.
- Học viên thường kêu gọi thầy thông cảm để giảm thiểu yêu cầu đánh giá của giáo viên.
- Thầy lơ là trong trách nhiệm giảng dạy và đánh giá đúng *.
* Thực tế cho thấy, khuynh hướng hiện nay là học viên muốn học các lớp đào tạo từ xa hơn. Với nhiều lý do: thời gian tập trung học ít hơn, có thể nhờ hoặc thuê người khác làm bài giúp. Các buổi giảng dạy trọng tâm, giải đáp thắc mắc rất dễ biến tướng thành những buổi ôn tập trọng tâm, các dạng bài tập phục vụ cho việc thi hết môn.
Phía lãnh đạo cũng khuyến khích học viên học từ xa do số thời gian tập trung học ít nên việc bỏ nhiệm sở để đi học cũng ít hơn, ít gây bị động cho người phụ trách lao động hơn.
Những điểm này khiến cho chất lượng đào tạo tại chức, đào tạo từ xa khó đảm bảo. Vì thế, nhiều học viên sau khi tốt nghiệp đã tự đánh giá trình độ không được cải thiện nhiều sau khi tốt nghiệp.
Nhưng qua đó cũng cho thấy chất lượng ĐH chính quy cũng bị ảnh hưởng.
3. Hiện trạng nhiều SV tốt nghiệp ĐH chính quy không có việc làm?
Hiện nay số lượng trường Đại học đã tăng lên rất nhiều do tính cách thương mại hóa và lợi nhuận của nó hơn là vì mục đích giáo dục. Nhiều trường Đại học không đảm bảo về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng dạy vẫn được phép mở với việc thu nhận số SV vượt quá chỉ tiêu cho phép của bộ Giáo dục về số lượng học sinh tốt nghiệp phổ thông cũng như về điểm sàn.
Điều này dẫn đến số sinh viên tốt nghiệp Đại học rất lớn nhưng khả năng đáp ứng nhu cầu lao động không cao và vì thế khả năng xin việc trở nên rất khó khăn.
- Các trường Đại học đào tạo theo những chuyên môn mình có, hơn là theo nhu cầu của thị trường lao động. Hoặc có thế theo nhu cầu thị trường lao động nhưng thực sự năng lực đào tạo chuyên sâu và ứng dụng không đảm bảo.
- Một số ngành được mở ra theo tầm nhìn không xa của người có trách nhiệm dẫn đến sự èo uột, đem con bỏ chợ và việc tìm công ăn việc làm cho đầu ra rất khó khăn. Ngành Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp tại trường ĐH sư phạm là một ví dụ.
- Hầu như trường Đại học nào cũng mở rộng chỉ tiêu đào tạo. Từ một lớp thành hai hoặc ba lớp cho mỗi năm nên điểm chuẩn hạ xuống, số lượng SV chính quy tăng.
- Thiếu sự sàng lọc và yêu cầu chất lượng đúng chuẩn theo hình tháp mà thường đi theo hình ống. Nghĩa là số lượng SV trượt tốt nghiệp rất ít.
Vì những lý do trên nên hiện nay nhu cầu học viên, học sinh tốt nghiệp cấp ba xin đi học tại chức đã giảm đi rất nhiều.
4. Tình trạng đào tạo ồ ạt những bằng cấp cao hơn?
Hơn mười lăm năm vừa qua, vấn đề đào tạo hết sức ồ ạt về bằng cấp Đại học qua nhiều hệ chuyên tu, tại chức, từ xa ....đã dẫn đến một cụm từ vui là : " phổ cập hóa bằng Đại học". Hiện nay bằng cấp Đại học không còn là một điều quá khó, cần phải phấn đấu như vài chục năm trước.
Nhiều SV với bằng tốt nghiệp ĐH tại chức đã và đang tham dự các lớp học đào tạo thạc sĩ trên khắp mọi miền đất nước và chắc có người cũng đã phấn đấu cấp học tiến sĩ.
Trong khi đó nhiều SV tốt nghiệp ĐH chính quy với năng lực tốt hiện đang bằng lòng với thu nhập cao và khả năng kiếm tiền của mình nên không đặt ra yêu cầu học ở cấp học cao hơn ( các giáo viên giỏi đang có thu nhập cao tại các trung tâm luyện thi Đại học là một ví dụ).
Hiện nay, vấn đề "phổ cập hóa bằng thạc sĩ" có lẽ là vấn đề đã và đang manh nha.
Một chuyên ngành đào tạo thạc sĩ, theo quy định của Bộ Giáo dục yêu cầu phải có ít nhất 3 tiến sĩ cùng chuyên ngành. Mỗi tiến sĩ và ngay cả Phó Giáo sư trong một năm chỉ được phép hướng dẫn tối đa 3 học viên thạc sĩ ( trước đây quy định TS hướng dẫn 3, PGS hướng dẫn 5). Thực tế thì số lượng học viên thạc sĩ mà mỗi TS lớn hơn. Có trường hợp cá biệt, tính trong 1 năm có người hướng dẫn đến hơn 10 luận văn thạc sĩ và tiến sĩ tính trên cả nước.
Việc hướng dẫn luận văn thạc sĩ không đúng chuyên ngành và hướng dẫn quá số quy định của Bộ GD hiện đang là điều có thật và là một vấn đề cảnh báo cần xem xét.
Do vậy, việc không tuyển dụng bằng cấp ĐH tại chức ở Đà Nẵng là một thực tế hiển nhiên.
Vì thực tế, hiện nay nhu cầu đào tạo bằng cấp này đã không còn cấp thiết nữa tại một thành phố trung ương như vậy. Nơi có nhiều trường ĐH có khả năng đào tạo về tiến sĩ, thạc sĩ cũng như đào tạo bằng ĐH chính quy. Cũng như có thể thu nhận những người tốt nghiệp ĐH hoặc tốt nghiệp thạc sĩ được đào tạo từ các tỉnh lân cận như Quảng nam, Qui Nhơn, Huế và Vinh thậm chí có thể từ các ĐH xa hơn ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà lạt.. Số người có bằng ĐH chính quy cũng như bằng thạc sĩ xin việc làm ở Đà nẵng tăng nhiều hàng năm. Do vậy đặt ra vấn đề tuyển dụng bằng ĐH tại chức là vấn đề không còn sát với thực tế.
Một điểm nữa cần chú ý là hiện nay với chủ trương của Bộ Giáo dục là xây dựng Đại học theo hệ thống tín chỉ. Một SV có thể theo học ĐH trong nhiều năm để có thể hoàn thành số tín chỉ theo đúng yêu cầu của bằng Đại học.
Chủ trương này hoàn toàn chính đáng, nó sẽ loại bỏ được tình trạng nhiều em vì lý do tài chính cũng như hoàn cảnh gia đình riêng mà đành ngậm ngùi trắng tay sau mấy năm học ĐH theo quy chế niên chế.
Tuy nhiên, trong cách nói ở một địa phương như vậy, vẫn có một điều gì đó cay đắng đến ngỡ ngàng. Vì thực tế như đã nói, vẫn có rất nhiều giáo viên tâm huyêt, hết lòng giảng dạy vì sự nghiệp giáo dục cũng như rất nhiều người tốt nghiệp Đại học tại chức nhưng có quyền ngẩng cao đầu vì sự phấn đấu vươn lên vì sự tự trọng, và vì danh dự của họ. Không nên có một sự đánh đồng như vậy, khi mà họ không phải là người chịu trách nhiệm chính về chất lượng của bằng ĐH tại chức.
Vấn đề quan trọng là tấm bằng phải phản ánh đúng trình độ của người có nó. Điều này phụ thuộc rất nhiều ở người tổ chức đào tạo, cấp phát và công nhận tấm bằng đó.
Đối với nhà tuyển dụng, họ có quyền nghi ngờ chất lượng đào tạo của một cơ sở đào tạo. Cái quan trọng không kém vẫn là năng lực đánh giá của nhà tuyển dụng vào chính con người mà họ cần tuyển dụng.
NBT
Bài viết này chỉ ghi lại những cảm nhận thực tế của cá nhân sau nhiều năm giảng dạy.
Đọc báo
Chấp nhận “ế” học viên tại chức để đảm bảo chất lượng đào tạo
http://dantri.com.vn/c728/s728-442541/chap-nhan-e-hoc-vien-tai-chuc-de-dam-bao-chat-luong-dao-tao.htm
Lỗi ở người học hay do nhà quản lý?
http://dantri.com.vn/c25/s25-442401/loi-o-nguoi-hoc-hay-do-nha-quan-ly.htm
Nói “không” với sinh viên tại chức là không công bằng
http://dantri.com.vn/c25/s25-442304/oi-khong-voi-sinh-vien-tai-chuc-la-khong-cong-bang.htm
Tuyển bằng hay tuyển người?
http://dantri.com.vn/c25/s25-442345/tuyen-bang-hay-tuyen-nguoi.htm